Phân tích cơ bản khi Đầu tư chứng khoán

Mục lục

Views: 34

Tổng quan phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản nghiên cứu nền kinh tế, ngành và doanh nghiệp để xác định giá trị của cổ phiếu doanh nghiệp đó. Phân tích cơ bản thường tập trung vào những số liệu quan trọng trong báo cáo tài chính để xác định xem cổ phiếu của doanh nghiệp có được định giá hợp lý hay không.

Nhiều người sẽ cảm thấy hơi khó hiểu khi phân tích cơ bản lại liên quan gì đến phân tích kỹ thuật. Tuy nhiên, phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật trên thực tế không quá khác biệt như nhiều người thường nghĩ. Áp dụng phân tích kỹ đối với dữ liệu cơ bản là khá phổ biến, ví dụ như so sánh xu hướng biến động của lãi suất với giá chứng khoán. Người ta cũng thường sử dụng phân tích cơ bản để lựa chọn chứng khoán và sau đó dùng phân tích kỹ thuật để xác định thời điểm giao dịch. Hiểu biết về phân tích cơ bản thậm chí cũng có ích đối với những người chỉ đơn thuần sử dụng phân tích kỹ thuật.

Cách sử dụng phân tích cơ bản

Thông tin sử dụng trong phân tích cơ bản chủ yếu là các số liệu về nền kinh tế, ngành và doanh nghiệp. Phương pháp thường được sử dụng để phân tích một doanh nghiệp gồm 4 bước cơ bản sau:

  1. Phân tích tình hình kinh tế vĩ mô.
  2. Phân tích ngành
  3. Phân tích doanh nghiệp
  4. Xác định giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp đó.

Phân tích nền kinh tế

Phân tích nền kinh tế để biết được liệu các điều kiện vĩ mô có thuận lợi cho thị trường chứng khoán hay không. Liệu lạm phát có đags lo ngại? Lãi suất sẽ tăng hay giảm? Chỉ tiêu của người tiều dùng như thế nào? Cán cân thương mại có khả quan? Cung tiền sẽ mở rộng hay thắt chặt? Đây là một số câu hỏi mà các nhà phân tích cơ bản thường đặt ra để xác định xem các điều kiện kinh tế có đang ủng hộ thị trường chứng khoán hay không.

Phân tích ngành

Ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động hiển nhiên sẽ có ảnh hưởng đến triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp đó. Ngay cả những cổ phiếu tốt nhất cũng có thể chỉ đem lại mức sinh lời thấp nếu như ngành kinh doanh của doanh nghiệp đang gặp khó khăn. Người ta thường nói một cổ phiếu yếu trong một ngành mạnh vẫn tốt hơn một cổ phiếu mạnh trong một ngành yếu.

Phân tích doanh nghiệp

Sau khi phân tích nền kinh tế và ngành, chúng ta phân tích báo cáo tài chính để xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chúng ta có thể tính được các chỉ số hữu ích dựa trên báo cáo tài chính. Có năm loại chỉ số: sinh lợi, giá, thanh toán, đòn bẩy và hiệu quả. Khi phân tích chỉ số của một doanh nghiệp, nên so sánh các chỉ số này với chỉ số của các doanh nghiệp trong cùng ngành hay các ngành tương tự để biết được liệu doanh nghiệp có “bình thường” không. Dưới đây, mỗi loại sẽ được trình bày với ít nhất một chỉ số.

Tỷ suất lợi nhuận dòng. 

Tỷ suất lợi nhuận ròng của một doanh nghiệp là một chỉ số sinh lời, được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho tổng doanh thu. Chỉ số này cho biết doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ một đồng doanh thu. Ví dụ, tỷ suất lợi nhuận ròng 30% có nghĩa là doanh nghiệp kiếm được 3 đồng lợi nhuận trên mỗi 10 đồng doanh thu.

Hệ số P/E. 

Hệ số P/E (hệ số Giá/Lợi nhuận ròng mỗi cổ phiếu) được tính bằng cách lấy giá hiện tại của cổ phiếu chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 4 quý trước đó. Hệ số P/E cho thấy một nhà đầu tư phải trả bao nhiêu để “mua” 1 đồng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp. Ví dụ, nếu giá hiện tại của một cô rphiếu là 20 đồng và EPS của 4 quý trước đó là 2 đồng thì hệ số P/E là 10 (tức là 20/2 =10). Điều này có nghĩa là chúng ta phải trả 10 đồng để “mua” 1 đồng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp. Dĩ nhiên, kỳ vọng của nhà đầu tư về kết quả kinh doanh tương lai của doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hệ số P/E hiện tại. Một cách phân tích phổ biến là so sánh hệ số P/E của những doanh nghiệp cùng ngành. Khi các yếu tố khác đều tương đồng, cổ phiếu có P/E thấp thì hấp dẫn hơn. 

Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phần

Giá trị sổ sách doanh nghiệp được tính bằng cách lấy tổng tài sản ròng (tổng tài sản trừ tổng nợ phải trả) chia cho tổng số cổ phiếu đang lưu hành. Tùy thuộc vào chế độ kế toán và thời gian sử dụng của tài sản, giá trị sổ sách có thể hữu ích trong việc xác định liệu một cổ phiếu đang được định giá cao hay thấp. Nếu một cổ phiếu đang giao dịch thấp hơn nhiều so với giá trị sổ sách thì đó là dấu hiệu cho thấy cổ phiếu có thể đang bị định giá thấp.

Chỉ số thanh toán hiện hành

Chỉ số thanh toán hiện hành được tính bằng cách lấy tổng tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngăn hạn. Chỉ số này cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toán được các nghĩa vụ nợ nàn ngắn hạn hay không. Chỉ số thanh toán hiện hành càng cao, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng lớn. Ví dụ, chỉ số thanh toán hiện hành 3,0 nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, nếu thanh lý hết, đủ để trả gấp 3 lần các khoản nợ ngắn hạn.

Hệ số nợ

Hệ số nợ là chỉ số đòn bẩy, được tính bằng cách chia tổng nợ cho tổng tài sản. Hệ số này cho thấy mức độ tổng tài sản được tài trợ từ nợ, Ví dụ, hệ số nợ 40%, có nghĩa là có 40% tài sản của doanh nghiệp được tài trợ từ nợ vay. Nợ là một con dao hai lưỡi. Trong giai đoạn kinh tế khó khăn hay lãi suất tăng cao, doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao có thể chịu nhiều sức ép về mặt tài chính. Tuy nhiên trong giai đoạn thuân lợi, nợ vay được tài trợ với chi phí thấp có thể làm tăng lợi nhuận.

Vòng quay hàng tồn

Vòng quay hàng tồn kho là chỉ số hiệu quả hoạt động, được tính bằng cách lấy giá vốn hàng bán chia cho hàng tồn kho. Chỉ số này cho thấy hiệu quả quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp thông qua số lần hàng tồn kho được xoay vòng trong năm. Chỉ số này cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào ngành kinh doanh. Ngành bán lẻ có vòng quay hàng tồn kho cao hơn nhiều so với ngành sản xuất máy bay thương mại. Và như đã đề cập ở trên, việc so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp cùng ngành là rất quan trọng.

Định giá chứng khoán

Sau khi phân tích hiện trạng và triển vọng nền kinh tế, ngành và doanh nghiệp, nhà phân tích cơ bản sẽ tiếp tục xác định xem cổ phiếu đang được đính giá quá cao, quá thấp hay đúng giá trị. Người ta đã phát triển nhiều mô hình để xác định giá trị cổ phiếu, bao gồm: mô hình định giá cổ tức, tập trung phân tích giá trị hiện tại của cổ tức dự kiến trả trong tương lại, mô hình thu thập, tập trung phân tích giá trị hiện tại của dòng thu nhập dự kiến trong tương lại, mô hình tài sản, tập trung vào giá trị tài sản doanh nghiệp.

Các yếu tố cơ bản đương nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc định giá cổ phiếu. Tuy nhiên, nếu kỳ vọng chỉ dựa trên các yếu tố cơ bản thì chúng ta cũng cần phải nghiên cứu giá quá khứ, để không phải nắm giữ cổ phiếu không có khả năng tăng trưởng mặc dù đang b ị định giá thấp.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin