Thị trường là đối tác của nhà đầu tư chứng khoán

Mục lục

Views: 66

Ý tưởng thị trường là đối tác của chúng ta xuất phát từ Ben Graham. Như nhiều nghiên cứu của Graham về đầu tư, khái niệm này ngay lập tức trở nên hiển nhiên và được phổ biến rộng rãi. Thị trường là một đối tác thích hợp, đáng tin cậy. Ở bất cứ thời điểm nào, thị trường cũng sẵn sàng thực hiện các giao dịch. Nếu chúng ta muốn mua một công ty, thị trường sẽ bán cho chúng ta. Nếu chúng ta muốn bán một công ty, thị trường cũng sẽ mua nó. Thật kinh khủng? Cái bẫy ở chỗ: Thị trường là người xác định giá.

Cái bẫy này sẽ không tạo cho chúng ta lợi thế đặc biệt nào trong những khoản đầu tư lớn nếu trên thực tế thị trường trung lập. Đối tác của chúng ta phủ đôi cánh khổng lồ của mình từ trạng thái cao nhất đến mức giảm thấp nhất. Nhìn chung, thị trường tỏ rõ sự thông thái, thị trường khá minh bạch và lý trí khi quyết định mức giá bán và mua. Điều đó có nghĩa rằng, hầu như giá của công ty rất gần với giá trị thực của nó. Nhưng đôi khi, thị trường có thể lạc quan thái quá khi định giá cao một cách điên rồ. Lại có những lúc, thị trường định giá quá thấp đến nỗi cổ phiếu gần như không có giá trị. Dù “điên rồ” hay không, thị trường luôn quyết định giá.

Rõ ràng, chúng ta có thể tận dụng lợi thế từ sự bất cân bằng này, chúng ta thích mua khi thị trường hạ giá và chúng ta muốn bán khi thị trường tăng giá. Thật xấu hổ khi lợi dụng một người có cảm xúc không thăng bằng, nhưng dường như người đó không phiền lắm. Thị trường ở trạng thái trung lập trong một thời kỳ dài đến nỗi người ta cho rằng đó là điều bình thường. Người ta không nghĩ thị trường định giá sai, dù giá một cổ phiếu là 100 đô-la và chỉ một vài tháng sau giá giảm xuống chỉ còn 10 đô-la. Nếu bạn hỏi các chuyên gia có kinh nghiệm, họ sẽ nói với bạn: thị trường vẫn tốt – hành vi của thị trường hoàn toàn có lý và cung cấp cho bạn hàng loạt những lý do hợp lý tại sao giá cổ phần của công ty đó là 100 đô-la rồi sau đó giảm còn 10 đô-la! Tôi đoán rằng khi quá quen với kiểu định giá đó, người ta sẽ xem là “bình thường”.

Hãy quay lại ví dụ về chiếc Maserati. Nếu người bán Maserati có tính khí thất thường, anh ta có thể định giá chiếc ô tô ở mức 145.000 đô-la và một năm sau còn 50.000 đô-la. Nếu chúng ta trả 145.000 đô-la và bán đi sau một vài tuần, chúng ta sẽ mất tiền. Nhưng nếu chúng ta sở hữu chiếc ô tô đó với giá 50.000 đô-la, ngay cả khi không phải người buôn ô tô chuyên nghiệp, chúng ta chắc chắn kiếm được tiền nếu bán chiếc ô tô đó vào ngày hôm sau. Hãy xem giá giao dịch tạo ra sự khác nhau cơ bản gì?

Phần lớn bí quyết mua cổ phiếu của các công ty lớn là biết giá trị của những công ty này. Điều quan trọng không kém là biết mức giá nào không nên mua.

Khi biết rằng (1) giá cả không phải là giá trị; và (2) thị trường đôi khi định giá cổ phiếu không hợp lý, chúng ta sẽ biết rằng nếu có thể đánh giá chính xác giá cổ phiếu của công ty chúng ta quan tâm thì chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi thị trường định giá cổ phiếu đó ở mức giá hợp lý − mức giá mà tại đó chắc chắn bạn sẽ kiếm được tiền.

Một số nhà đầu tư nghĩ rằng, cổ phiếu của những công ty lớn sẽ không được đem ra bán, và họ thường đúng. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ luôn luôn đúng. Dưới đây là một vài ví dụ thực tế về những sai lầm thị trường tạo ra trong việc định giá những công ty lớn (đừng quan tâm tới việc làm thế nào để tìm ra giá trị thực, vì tôi sẽ chỉ cho bạn cách tính giá trị thực thật dễ dàng dù đối với bất kỳ công ty nào):

Năm 2000, Apollo (APOL): Năm chỉ số tăng trưởng chủ yếu ổn định và rất tốt. Tăng trưởng doanh thu đạt 35%; tăng trưởng EPS đạt 35%; tăng trưởng vốn cổ phần đạt 36%; tăng trưởng dòng tiền đạt 30%; ROIC là 18%. Trước đó mức trưởng doanh thu 35% chưa từng xảy ra. Các nhà phân tích dự đoán mức tăng trưởng là 25%. Giả sử các nhà phân tích đúng, giá trị thực có thể là 40 đô-la. Thị trường không thể tin tưởng các nhà phân tích, tôi đoán vậy. Giá thị trường là: 10 đô-la. Tháng Năm năm 2005, thị trường ấn định lại mức giá là 79 đô-la. Tỷ suất lợi nhuận gộp trong năm năm là 52% mỗi năm.

Năm 2003, Walgreens (WAG): Tăng trưởng doanh thu đạt 15%; tăng trưởng EPS đạt 17%; tăng trưởng vốn cổ phần đạt 15%; tăng trưởng dòng tiền đạt 50%… tất cả đều ổn định. ROIC là 15%. Giả sử các nhà phân tích đều dự đoán đúng tương lai của công ty thì giá trị thực là 44 đô-la. Nhưng thị trường đưa ra mức giá là 27 đô-la. Tại sao? Nguyên nhân là sự sụt giảm đáng kể trong chuỗi bán lẻ. Tháng 5 năm 2005, giá là 45 đô-la, và tỷ suất lợi nhuận gộp trong hai năm là 29%.

Năm 2000, Bed Bath & Beyond (BBBY): Tăng trưởng doanh thu, EPS, vốn cổ phần và dòng tiền đều đạt 25%. ROIC là 19%. Giá trị thực là 40 đô-la. Giá thị trường là 12 đô-la. Tại sao? Nguyên nhân là thị trường bắt đầu chao đảo và BBBY bị ảnh hưởng theo. Tháng 5 năm 2005, giá tăng lên 40 đô-la. Tỷ suất lợi nhuận gộp cho năm năm là 27%.

Năm 2000, Starbucks (SBUX): Tăng trưởng doanh thu, EPS, vốn cổ phần và dòng tiền đều đạt 24%. ROIC là 40%. Giả sử các nhà phân tích dự đoán đúng về chỉ số tăng trưởng tương lai của công ty, giá trị thực của cổ phiếu là 60 đô-la. Giá thị trường là 14 đô-la. Tháng 5 năm 2005 giá tăng lên 56 đô-la. Tỷ suất lợi nhuận gộp cho năm năm là 32%.

Năm 2001, Dell (DELL): Tăng trưởng doanh thu, EPS, vốn cổ phần và dòng tiền đều đạt 35%. ROIC là 40%. Giả sử các nhà phân tích dự đoán đúng về chỉ số tăng trưởng tương lai của công ty, giá trị thực của cổ phiếu là 70 đô-la. Trên thị trường xuất hiện tâm lý hoảng sợ các cổ phiếu ngành công nghệ. Giá cổ phiếu 20 đô-la. Tháng 5 năm 2005, giá tăng lên 40 đô-la. Tỷ suất lợi nhuận gộp cho năm năm là 19%.

Năm 2000, Toll Brothers (TOL), một công ty xây dựng dân dụng): Tăng trưởng doanh thu, EPS, vốn cổ phần và dòng tiền đều đạt 18%. ROIC là 12%. Giả sử các nhà phân tích dự đoán đúng về chỉ số tăng trưởng tương lai của công ty, giá trị thực của cổ phiếu là 25 đô-la. Thị trường đang bán cổ phiếu của ngành bất động sản này với giá rẻ 9 đô-la. Tháng 5 năm 2005 giá tăng lên 90 đô-la. Tỷ suất lợi nhuận gộp cho năm năm là 58%.

Lợi nhuận trung bình trong năm 2005 của các công ty này là khoảng 30% mỗi năm. Nếu bạn đầu tư 10.000 đô-la vào các cổ phiếu này vào năm 2000, chúng sẽ đáng giá 37.000 đô-la vào năm 2005. Trong khi chỉ số S&P bình quân giảm 2% và với số tiền 10.000 đô-la nếu đầu tư vào các quỹ thì sau năm năm sẽ còn 9.000 đô-la. Trong 15 năm, 37.000 đô-la có thể tăng lên 2 triệu đô-la, trong khi 10.000 đô-la đầu tư vào quỹ đầu tư thì vẫn chỉ là 10.000 đô-la.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin