Thời điểm nào thích hợp để đầu tư

Mục lục

Views: 71

Thời điểm thích hợp để bán một công ty không bao giờ xảy ra

— WARREN BUFFETT

Như Buffett nói, thời điểm thích hợp để bán một công ty, về mặt lý thuyết, là không thể xảy ra. Do đó, một công ty hoàn hảo để mua là một công ty chưa từng tồn tại để bán ra. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là: mua một công ty cực tốt với mức giá hấp dẫn đến nỗi không thể bán. Công ty này sẽ tiếp tục làm chúng ta trở nên giàu có. Quy tắc số 1 là người bạn của tôi. Tiếp cận Quy tắc số 1 với ý tưởng này là một phần của quá trình đầu tư vào các công ty. Bạn muốn giả sử bạn chưa từng bán một công ty cực tốt. Khi điều này trở thành sự thật, bạn sẽ không thể nhận ra cho đến khi bạn bán chúng, và sự giàu có của bạn chỉ là “trên giấy”. Các bài tập lý thuyết không coi việc bán cổ phiếu là điều quan trọng đối với nhà đầu tư theo Quy tắc số 1. Nó giúp chúng ta tránh được những cái bẫy đầu cơ trên thị trường. Mặt khác, nó củng cố những nguyên lý của Quy tắc số 1.

Tất nhiên, bạn không thể giữ cổ phiếu vĩnh viễn. Không phải tất cả các công ty đều tuyệt vời. Ngay cả thị trường cũng thường xuyên có giao dịch bán cổ phiếu. Suốt những năm qua, Buffett mua và bán hàng trăm cổ phiếu. Ông có thể mua với hy vọng không bao giờ bán, nhưng vì là nhà đầu tư theo Quy tắc số 1, ông có thể mua với biên độ an toàn. Do đó, đây là cách đầu tư không sợ thua lỗ nếu những cổ phiếu này không đi theo chiều hướng tốt. Những công ty ông mua và nắm giữ cổ phiếu lâu dài không có nhiều. Ngay cả Coke, một công ty ông nói rằng ông chưa bao giờ bán, cũng khiến ông hối tiếc khi đã không bán vào năm 1999 khi thị trường định giá Coke quá cao.

“Chúng ta khó tăng mức lợi nhuận khi nhanh chóng thay đổi việc nắm giữ cổ phiếu. Ngược lại, tôi có thể bị chỉ trích vì đưa ra những đánh giá trong thời kỳ bong bóng, hơn là hành động theo quan điểm của mình. Mặc dù tôi nói rằng những cổ phiếu chúng ta nắm giữ được định giá cao hơn giá trị của chúng, tôi đã đánh giá thấp về mức độ khốc liệt của việc định giá quá cao. Có lẽ tôi nói điều này khi đang lạc quan”.

− “Thư của tổng giám đốc” của Warren Buffett, 28 tháng 2 năm 2005.

Tuy nhiên, mục tiêu của mọi khoản đầu tư theo Quy tắc số 1 là không bao giờ bán. Đừng mất phương hướng về khái niệm này vì đó chỉ là một kim chỉ nam bạn phải ứng dụng để tìm kiếm và mua cổ phiếu của những công ty tuyệt vời.

Lợi thế khó tin của việc không bao giờ bán cổ phiếu

Đây là lý do những người giàu nhất trên thế giới luôn là chủ các công ty. Các công ty kiếm tiền nhanh hơn bất cứ hoạt động nào khác bởi vì hàng năm họ không phải tìm một nơi mới để tái đầu tư. Nếu chúng ta không thu được tỷ suất lợi nhuận 15% mỗi năm từ một công ty tuyệt vời, thì chúng ta có thể kiếm được ở đâu khác? Chúng ta có thể đầu tư vào công ty nào tốt hơn một công ty mỗi năm đem lại khoản lợi nhuận 15% hoặc cao hơn không? Không có lợi nhuận nào tốt hơn, điều này là lý do tại sao dùng khoản lợi nhuận kiếm được từ hoạt động đầu tư của chúng ta để đầu tư tiếp (hơn là rút tiền ra) là cách thức thích hợp để trở nên cực kỳ giàu có. Điều này là đúng dù chúng ta có nghỉ hưu hay không.

Để có thể tái đầu tư khoản lợi nhuận hàng năm và tiếp tục gia tăng lượng tiền với tỷ suất 15% mỗi năm hoặc hơn, nhà đầu tư theo Quy tắc số 1 cần đầu tư vào một công ty tuyệt vời. Điều đó có nghĩa rằng, ít nhất về mặt lý thuyết, chúng ta chỉ nắm một số công ty tuyệt vời, mua cổ phiếu của họ với mức giá hấp dẫn, chúng ta chắc chắn sẽ giàu.

Luôn ghi nhớ rằng một công ty tuyệt vời bao gồm lợi thế cạnh tranh, xa hơn nữa là sự hiểu biết về khả năng dự đoán. Nếu công ty không thể dự đoán được, có lẽ lợi thế cạnh tranh đã bị phá bỏ. Trong trường hợp đó, công ty không còn là công ty tuyệt vời nữa và chúng ta sẽ bán nó.

Sự thật là những người giàu nhất trên thế giới kiếm được tiền từ những công ty tăng trưởng tài sản của chính nó. Trong danh sách những người giàu nhất trên thế giới được đăng trên tạp chí Forbes năm 2004, người giàu nhất về lĩnh vực bất động sản không xuất hiện trước vị trí thứ 34, trong khi người tiếp theo, Donald, xuất hiện ở vị trí 78. Những người trong danh sách này làm tăng tài sản của họ từ hoạt động kinh doanh. Danh sách 10 người đứng đầu tạo dựng tài sản trong những lĩnh vực như: Công nghệ (Microsoft và Oracle, đứng vị trí thứ nhất và thứ năm tương ứng; hệ thống bán lẻ, (Wal-Mart, vị trí từ thứ sáu đến thứ 10); thực phẩm (vị trí thứ ba); dầu và ga (vị trí thứ tư); đầu tư chứng khoán (Warren Buffett ở vị trí thứ hai)…

Một công ty có tỷ lệ tăng trưởng tiền mặt lớn, theo cách nói của Albert Einstein (khi đề cập đến tỷ suất lợi nhuận gộp), là “lực lượng quyền thế nhất trên thế giới”.

Ví dụ, chúng ta mua Apollo Group trong năm 2000 với mức giá hấp dẫn: 10 đô-la một cổ phiếu. Cuối năm 2004, Apollo Group có tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trên 300% và chúng ta không rút một đồng vốn nào ra để sử dụng vào bất cứ mục đích nào khác. Chúng ta đầu tư tất cả tiền vào công ty và tiếp tục tăng lượng tiền lên trên mức 15% mỗi năm. Trước năm 2020, nếu Apollo có thể giữ được mức tăng trưởng này, lợi nhuận tái đầu tư của chúng ta sẽ tăng 7000%.

Giá một cổ phiếu có thể tăng từ 10 đô-la lên 1.000 đô-la không? Các công ty hiếm khi để giá cổ phiếu lên tới 1.000 đô-la. Berkshire Hathaway, tờ Washington Post và một số công ty khác đã làm vậy, nhưng không nhiều. Bởi vì giá cổ phiếu càng cao càng khó tìm được người mua (hầu hết mọi người đều dè dặt khi phải trả nhiều tiền cho một cổ phiếu). Cổ phiếu hạng A của BerkShire Hathaway hiện nay được định giá trên 80.000 đô-la một cổ phiếu. Buffett chủ định đầu tư tiền vào đó nhằm ngăn cản rất nhiều giao dịch đối với loại cổ phiếu này.

Các công ty giữ giá cổ phiếu không vượt mức 80 đô-la bằng cách tách một cổ phiếu ban đầu thành hai cổ phiếu vào thời điểm mức giá tăng gấp ba lần hoặc cao hơn. Giá của mỗi cổ phiếu mới bằng một nửa giá cổ phiếu ban đầu. Ví dụ, nếu giá cổ phiếu là 100 đô-la, hai cổ phiếu giá 50 đô-la sẽ thay thế cho một cổ phiếu giá 100 đô-la và lúc này tôi sẽ có giá trị cổ phiếu là 100 đô-la, nhưng bây giờ tôi có hai cổ phiếu giao dịch ở mức giá 50 đô-la mỗi cổ phiếu. Nghiệp vụ này gọi là tách cổ phiếu và nó được thực hiện thường xuyên. Do đó, 10 năm sau, kể từ bây giờ, chúng ta có thể sẽ không có một cổ phiếu trị giá 1.000 đô-la. Đơn giản hơn, với mỗi cổ phiếu ban đầu, chúng ta sẽ có 50 cổ phiếu trị giá 20 đô-la, giá trị tổng cộng là 1.000 đô-la.

Giả sử chúng ta về hưu ở thời điểm đó. Lúc đó là năm 2020, và giả sử Apollo vẫn tăng trưởng đều, ổn định và có thể dự đoán được, chúng ta có thể bán công ty từng mua với giá 10 đô-la một cổ phiếu trong năm 2000 ở mức 1.000 đô-la một cổ phiếu. Tỷ suất lợi nhuận là 25% mỗi năm. Nếu chúng ta đầu tư 10.000 đô-la vào Tập đoàn Apollo trong năm 2000, bây giờ chúng ta có 1 triệu đô-la. Những 1 triệu đô-la! Liệu việc rút tiền ra và lấy 1 triệu đô-la đó để sống trong thời gian nghỉ hưu có tốt hơn không? Hay chúng ta làm một việc khác với số tiền đó? Đâu là cách tốt nhất – an toàn nhất để nghỉ hưu?

Nếu ở bất cứ thời điểm nào trong 20 năm, Apollo trở thành một công ty kinh doanh kém hơn và cổ phiếu được định giá quá cao, chúng ta sẽ bán nó và sẽ không đầu tư tiếp cho đến khi tình hình được cải thiện. Trong trường hợp đó, khoản tiền sẽ được đầu tư vào một vài công ty tốt khác với một mức giá hấp dẫn. Trên thực tế, rất ít công ty có thể duy trì hoạt động tốt trong suốt 20 năm. Trái lại, đối với nhà đầu tư theo Quy tắc số 1, các số liệu phải tăng như nhau dù họ nói về một công ty trong 20 năm hay một vài công ty trong 20 năm. Nếu tỷ suất lợi nhuận hàng năm bình quân là 25% trong 20 năm nghe có vẻ cao thì chúng ta sẽ sử dụng nó. Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân của Buffett trong 50 năm qua và chúng ta, các nhà đầu tư nhỏ lẻ theo Quy tắc số 1, có nhiều thuận lợi hơn Buffett, điều này bù đắp cho sự thiếu hụt tài năng của chúng ta. Chúng ta không nên trông đợi tỷ suất lợi nhuận 25% mỗi năm trong 20 năm. Đừng bận tâm nếu không có được điều đó. Bạn có cần một vài bằng chứng hay không? Hãy xem xét các câu chuyện thực tế sau về các công ty tuyệt vời mà giá cổ phiếu của chúng tăng lên như sau:

• Walgreens: Từ 50 xu tăng lên 48 đô-la (từ 1978 đến 2002).

• Wal-Mart: Từ 20 xu tăng lên 64 đô-la (từ 1975 đến 2000).

• Dell: Từ 4 xu tăng lên 42 đô-la (từ 1989 đến 1999).

• Amgen: Từ 10 xu tăng lên 72 đô-la (từ 1985 đến 2001).

Giá cổ phiếu của những công ty này (và nhiều công ty khác) tăng bình quân 25% mỗi năm trong 20 năm hoặc lâu hơn. Trong 10 năm qua, giá cổ phiếu của Tập đoàn Apollo tăng từ (1 đô-la đến 80 đô-la), Whole Foods (6 đô-la đến 120 đô-la), Toll Brothers (4 đô-la đến 48 đô-la), Urbar Outptters (1 đô-la đến 50 đô-la), Chicos Fashion (20 đô-la đến 35 đô-la), Bed Bath & Beyond (3 đô-la đến 46 đô-la), và giá cổ phiếu của nhiều công ty khác tăng 25% hoặc hơn. 10.000 đô-la đầu tư vào bất kỳ công ty nào hoặc toàn bộ trong nhóm đầu (từ Walgreens đến Amgen) bây giờ có giá trị trên 1 triệu đô-la. 10 nghìn đô-la đầu tư vào bất kỳ hoặc tất cả các công ty trong nhóm 2 (từ Apollo đến Bed Bath & Beyond) bây giờ đáng giá hơn 100.000 đô-la mặc dù chúng đã trải qua một trong thời kỳ suy giảm tồi tệ nhất trong lịch sử.

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin